Tại sao việc càng quan trọng, ta càng dễ trì hoãn?
Vì sao có những việc càng quan trọng chúng ta càng khó bắt đầu? Hiểu vai trò của sợ thất bại, cầu toàn, bất định và áp lực tâm lý trong trì hoãn.
Chủ đề:
Bài này đào sâu một phần của Trì hoãn là gì? Vì sao chúng ta biết cần làm nhưng vẫn không làm?.
Có một kiểu trì hoãn khá khó hiểu: bạn không trì hoãn vì công việc vô nghĩa, mà lại trì hoãn chính thứ mình rất quan tâm.
Một dự án cá nhân bạn đã muốn làm từ lâu. Hồ sơ cho một cơ hội nghề nghiệp thực sự quan trọng. Luận văn quyết định việc tốt nghiệp. Một ý tưởng kinh doanh bạn tin rằng mình nên bắt đầu. Bạn nghĩ về nó rất nhiều, biết càng để lâu càng bất lợi, thậm chí có động lực thật sự. Nhưng cứ mỗi lần định bắt tay vào làm, bạn lại muốn chuẩn bị thêm một chút, nghiên cứu thêm một chút, đợi đầu óc tỉnh táo hơn hoặc đơn giản là làm một việc khác trước.
Phản ứng đầu tiên thường là tự trách: “Nếu việc này thực sự quan trọng với mình, tại sao mình lại không làm?”
Nhưng câu hỏi này có một giả định chưa chắc đúng. Nó cho rằng một việc càng quan trọng thì càng phải dễ hành động. Tâm lý con người không đơn giản như vậy.
Thực ra, nghiên cứu cho thấy bản thân tầm quan trọng của nhiệm vụ không làm chúng ta trì hoãn nhiều hơn. Trong một nghiên cứu theo dõi sinh viên qua nhiều nhiệm vụ thực tế, người tham gia có xu hướng trì hoãn những nhiệm vụ mà họ đánh giá là ít giá trị hơn, khó chịu hơn và ít tin rằng mình có thể hoàn thành tốt hơn. Nói cách khác, nếu mọi yếu tố khác giống nhau, việc thấy một nhiệm vụ có ý nghĩa thường là lực kéo chúng ta về phía hành động chứ không phải ra xa nó (Wieland et al., 2021).
Vậy tại sao trải nghiệm “càng quan trọng càng trì hoãn” lại có thật với nhiều người?
Theo cách Flowable nhìn vấn đề này, lý do nằm ở chỗ những việc quan trọng hiếm khi chỉ trở nên giá trị hơn. Chúng thường đồng thời trở nên nặng nề hơn về mặt tâm lý. Khi một kết quả có nhiều ý nghĩa, chúng ta có nhiều thứ để được, nhưng cũng có nhiều thứ để mất.
Một việc quan trọng có thể tạo ra cả lực kéo lẫn lực cản
Hãy tưởng tượng bạn phải viết hai văn bản.
Một cái là email nội bộ thông thường. Bạn viết trong mười phút, đọc lại rồi gửi. Nếu câu chữ chưa hoàn hảo thì cũng chẳng có hậu quả gì lớn.
Cái còn lại là thư ứng tuyển cho công việc bạn thực sự mong muốn. Bạn mở tài liệu, viết một đoạn, thấy chưa ổn, xóa đi. Bạn đọc thêm về công ty. Xem lại một vài mẫu. Sửa CV. Sau một tiếng, bạn đã làm rất nhiều thứ liên quan đến hồ sơ, chỉ trừ việc thực sự hoàn thành lá thư.
Vấn đề không đơn giản là lá thư thứ hai khó viết hơn. Kết quả của nó có nhiều ý nghĩa hơn.
Nếu email đầu tiên không tốt, bạn mất rất ít. Nhưng hồ sơ thứ hai có thể gắn với cơ hội nghề nghiệp, thu nhập, cảm giác mình đang tiến lên hay đứng yên, thậm chí với câu hỏi “mình có đủ giỏi không?”.
Một nhiệm vụ như vậy tạo ra hai lực cùng lúc. Giá trị của mục tiêu kéo bạn về phía nó. Nhưng khả năng thất bại, bị đánh giá hoặc nhận được một câu trả lời mình không muốn lại đẩy bạn ra xa.
Đây là điểm quan trọng đầu tiên: động lực không phải lúc nào cũng là một lực duy nhất.
Bạn có thể rất muốn một điều và đồng thời rất muốn tránh những cảm xúc gắn với quá trình theo đuổi nó.
Một nghiên cứu tổng quan lớn của Piers Steel cho thấy những yếu tố liên quan nhất quán đến trì hoãn gồm mức độ khó chịu của nhiệm vụ, khoảng cách tới kết quả, niềm tin vào khả năng hoàn thành, tính bốc đồng và các đặc điểm liên quan đến Tận tâm. Vì vậy, câu hỏi không chỉ là “mục tiêu có giá trị không?” mà còn là “trải nghiệm thực hiện nó có khó chịu đến mức nào?” và “mình tin mình có thể làm được đến đâu?” (Steel, 2007).
Một mục tiêu rất quan trọng nhưng đồng thời khiến bạn nghi ngờ khả năng của mình có thể tạo ra một cấu hình đặc biệt dễ trì hoãn.
Càng quan trọng, thất bại càng dễ mang ý nghĩa về chính mình
Giả sử bạn thử nấu một món mới và làm hỏng. Bạn có thể thất vọng vài phút rồi thôi.
Nhưng nếu bạn dành ba năm để viết một cuốn sách và nó không được đón nhận, trải nghiệm đó có thể được não bộ diễn giải theo một cách hoàn toàn khác. Không chỉ là “cuốn sách này chưa tốt”, mà có thể trở thành “có lẽ mình không có khả năng viết”.
Sự khác biệt nằm ở việc mức độ chúng ta gắn kết quả với bản thân.
Con người không chỉ theo đuổi mục tiêu để đạt được phần thưởng bên ngoài. Chúng ta còn sử dụng kết quả để suy ra mình là người thế nào, có năng lực ra sao và vị trí của mình trong mắt người khác. Khi một mục tiêu trở thành phép thử của những điều này, thông tin nhận được sau khi hành động có thể trở nên đáng sợ.
Điều đó giúp giải thích tại sao đôi khi chuẩn bị lại dễ chịu hơn thực hiện. Khi còn đang nghiên cứu, lên kế hoạch hay “chờ đúng thời điểm”, kết quả vẫn chưa được kiểm chứng. Bạn vẫn có thể tin rằng dự án sẽ rất tốt khi mình thực sự bắt tay vào làm.
Hành động khiến giả thuyết đó phải bước ra đời thực.
Một số lý thuyết về thành tích từ lâu đã chỉ ra rằng con người đôi khi tìm cách bảo vệ cảm nhận về năng lực bằng cách tạo ra một lý do thay thế cho thất bại. Trong tâm lý học, hiện tượng này thường được gọi là self-handicapping, có thể hiểu là tự tạo bất lợi cho mình.
Ví dụ, nếu bạn học nghiêm túc ba tháng cho một kỳ thi rồi đạt điểm thấp, kết quả rất khó chịu vì nó có vẻ phản ánh năng lực của bạn. Nhưng nếu bạn chỉ học ba ngày trước kỳ thi, thất bại có thêm một lời giải thích: “Mình không có đủ thời gian.”
Trì hoãn có thể vô tình tạo ra đúng chiếc phao tâm lý đó.
Điều này không có nghĩa mỗi khi bạn trì hoãn là bạn đang cố bảo vệ cái tôi. Hai hiện tượng không đồng nhất. Nhưng các nghiên cứu đã tìm thấy mối liên hệ giữa trì hoãn, lo âu thành tích và những chiến lược tự tạo bất lợi để bảo vệ đánh giá về bản thân.
Đây cũng là lý do chúng mình nghĩ câu “nếu thực sự muốn thì bạn đã làm rồi” thường không đúng. Đôi khi bạn không hành động chậm vì mục tiêu không đủ quan trọng, mà vì nó quan trọng đến mức kết quả bắt đầu mang quá nhiều thông tin về chính mình.
Người cầu toàn trì hoãn không phải vì họ muốn làm tốt
Đây là nơi chúng ta cần nói chính xác hơn về cầu toàn.
Một cách giải thích rất phổ biến là: “Bạn trì hoãn vì bạn cầu toàn.” Nhưng nếu hiểu cầu toàn đơn giản là đặt tiêu chuẩn cao, câu này không đúng.
Một phân tích tổng hợp gồm gần 10.000 người cho thấy hai mặt của cầu toàn có quan hệ gần như ngược nhau với trì hoãn. Những người có xu hướng đặt tiêu chuẩn cao và nỗ lực đạt chúng thực ra trì hoãn ít hơn một chút. Ngược lại, những khía cạnh như quá lo lắng về sai sót, liên tục nghi ngờ chất lượng công việc và cảm thấy mình không đáp ứng được kỳ vọng lại liên quan đến trì hoãn nhiều hơn (Sirois, Molnar & Hirsch, 2017).
Điều này tạo ra một distinction rất quan trọng:
“Mình muốn làm việc này thật tốt” không giống với “Mình không được phép làm việc này không tốt.”
Người thứ nhất có thể viết bản nháp đầu tiên rồi sửa dần. Người thứ hai cảm thấy mình cần phải biết cách làm đúng trước khi bắt đầu.
Đó là cách một tiêu chuẩn về chất lượng biến thành tiêu chuẩn để được phép hành động.
Bạn bắt đầu một bài viết và xóa đoạn đầu vì nó chưa đủ hay. Bạn muốn mở kênh YouTube nhưng nghĩ cần hiểu rõ định vị hơn. Bạn muốn gửi proposal nhưng quyết định phải nghiên cứu thêm vài tài liệu nữa. Bạn muốn bắt đầu kinh doanh nhưng cảm thấy phải nghĩ ra một chiến lược đủ hoàn chỉnh trước.
Từng hành động riêng lẻ đều có vẻ hợp lý. Và đây chính là lý do kiểu trì hoãn này khó nhận ra: nó có thể mặc quần áo của sự chuẩn bị.
Bạn vẫn làm việc. Bạn vẫn đọc, phân tích, ghi chú, lên kế hoạch. Chỉ có một thứ liên tục bị đẩy về phía sau là hành động khiến bạn thực sự nhận được phản hồi từ thế giới bên ngoài.
Ở đây, giải pháp không phải hạ tiêu chuẩn của kết quả cuối cùng. Nó là hạ tiêu chuẩn của phiên bản đầu tiên.
Một bài viết xuất sắc vẫn có thể bắt đầu từ một bản nháp tệ. Một sản phẩm tốt vẫn có thể bắt đầu từ một phiên bản sơ khai. Trong rất nhiều công việc sáng tạo và phức tạp, chất lượng không phải điều kiện để bắt đầu mà là kết quả của nhiều vòng thử, nhận phản hồi và chỉnh sửa.
Những mục tiêu quan trọng thường có một vấn đề khác: chúng quá mơ hồ
Có một nguyên nhân ít mang tính cảm xúc hơn nhưng rất thường gặp.
Những điều thực sự quan trọng trong cuộc đời thường không phải những nhiệm vụ đơn giản.
“Trả tiền điện” có một điểm bắt đầu và điểm kết thúc rõ ràng. Nhưng “viết luận văn”, “xây dựng thương hiệu cá nhân”, “chuyển nghề”, “cải thiện sức khỏe” hay “khởi nghiệp” đều là những mục tiêu chứa hàng chục hoặc hàng trăm hành động nhỏ hơn.
Đứng trước một mục tiêu như vậy, tâm trí phải giải quyết nhiều câu hỏi trước khi có thể hành động. Bắt đầu ở đâu? Ưu tiên cái gì? Làm đến mức nào? Phương án nào đúng? Nếu chọn sai thì sao?
Nghiên cứu về trì hoãn ở cấp độ từng nhiệm vụ cho thấy niềm tin thấp vào khả năng thành công và cảm giác nhiệm vụ khó chịu đều làm tăng xác suất trì hoãn. Các nghiên cứu về môi trường học tập cũng chỉ ra rằng thiếu cấu trúc, thiếu phản hồi và ít cơ hội xây dựng cảm giác làm chủ nhiệm vụ có thể tạo điều kiện cho procrastination.
Ở đây có một insight khá thực tế: đôi khi chúng ta gọi một nhiệm vụ là “đáng sợ”, trong khi một phần đáng sợ thực ra chỉ là chúng ta chưa biết phải làm gì tiếp theo.
“Mình phải hoàn thành luận văn” không phải một hành động.
“Mở bảng kết quả, chọn phát hiện thứ nhất và viết ba câu giải thích nó” mới là một hành động.
“Mình phải xây personal brand” không phải một hành động.
“Liệt kê mười vấn đề mình có đủ chuyên môn để giải thích” mới là một hành động.
Những mục tiêu lớn cần giữ được ý nghĩa của chúng ở tầng chiến lược, nhưng ở tầng hành động chúng phải được chuyển thành những bước đủ cụ thể.
Flowable thường thấy mọi người làm điều ngược lại: mục tiêu rất rõ, nhưng hành vi lại mơ hồ. Bạn biết mình muốn đi đâu nhưng mỗi ngày vẫn phải quyết định lại xem bước tiếp theo là gì.
Mỗi quyết định như vậy là thêm một điểm mà trì hoãn có thể chen vào.
Một nhiệm vụ quan trọng còn có thể trở nên khó chịu trước khi bạn thực sự làm nó
Có một điểm khác mà nghiên cứu về điều chỉnh cảm xúc giúp chúng ta hiểu rõ hơn.
Khi nghĩ đến một việc quan trọng, chúng ta không chỉ hình dung kết quả. Tâm trí còn mô phỏng những cảm xúc có thể xuất hiện trong quá trình thực hiện: bối rối, buồn chán, thất vọng, lo lắng, cảm giác không đủ giỏi.
Nếu những cảm xúc này đủ khó chịu, tránh nhiệm vụ đem lại một lợi ích ngay lập tức: chúng giảm đi.
Bạn không mở email báo kết quả và trong vài tiếng nữa chưa phải đối diện với khả năng bị từ chối. Bạn không viết chương luận văn nên tạm thời không phải đối diện với cảm giác mình đang bí. Bạn không đăng sản phẩm nên chưa phải biết thị trường có thực sự muốn nó hay không.
Đây là lý do các nhà nghiên cứu như Fuschia Sirois và Timothy Pychyl xem procrastination một phần như một vấn đề điều chỉnh cảm xúc. Khi một nhiệm vụ làm chúng ta cảm thấy tệ, trì hoãn là một cách rất nhanh để thay đổi cảm giác hiện tại, dù hậu quả dài hạn lại xấu hơn.
Điều quan trọng là phần thưởng này xuất hiện ngay lập tức. Bạn đóng laptop và lập tức thấy nhẹ hơn.
Công việc thì vẫn còn đó, nhưng hậu quả của nó nằm trong tương lai.
Đó là một cuộc trao đổi rất hấp dẫn đối với tâm trí: đổi một ít stress của ngày mai lấy sự nhẹ nhõm ngay hôm nay.
Và khi nhiệm vụ quan trọng hơn, cảm xúc gắn với nó đôi khi cũng mạnh hơn. Vì vậy, lợi ích tức thời của việc né tránh cũng có thể lớn hơn.
Stress khiến cùng một công việc trở thành một công việc khác
Một điều nữa chúng ta thường bỏ qua là trì hoãn không chỉ phụ thuộc vào bạn là người như thế nào, mà còn phụ thuộc vào bạn đang sống trong hoàn cảnh nào.
Có thể sáu tháng trước bạn làm việc rất đều, còn gần đây việc gì cũng khó bắt đầu. Chúng ta thường diễn giải điều này ở cấp độ tính cách: “mình xuống tinh thần”, “mình mất kỷ luật”, “mình lười đi”.
Nhưng nguồn lực tâm lý của con người không bất biến.
Trong một tổng quan năm 2023, Sirois đề xuất một mô hình giải thích tại sao các bối cảnh căng thẳng có thể làm tăng nguy cơ trì hoãn. Khi stress kéo dài, chúng ta phải sử dụng nhiều nguồn lực hơn để đối phó với những cảm xúc và yêu cầu khác trong cuộc sống. Khả năng chịu đựng thêm một nhiệm vụ khó chịu vì thế có thể giảm xuống. Lúc này, trì hoãn trở thành một cách tương đối ít tốn sức để thoát khỏi cảm xúc tiêu cực trong ngắn hạn.
Điều này giải thích tại sao cùng một việc có thể rất dễ vào tháng này nhưng cực kỳ khó vào tháng khác.
Một buổi học 45 phút khi bạn ngủ đủ, công việc ổn định và đầu óc thoải mái không giống một buổi học 45 phút khi bạn vừa trải qua tám tiếng làm việc, ngủ năm tiếng mỗi đêm và đang lo một vấn đề gia đình.
Trên lịch, chúng đều là “45 phút học”.
Với hệ thần kinh và khả năng tự điều chỉnh của bạn, chúng không phải cùng một nhiệm vụ.
Điều này không có nghĩa cứ stress là chúng ta nên từ bỏ mục tiêu. Nhưng nó gợi ý rằng thiết kế hành vi cần tính đến nguồn lực thực tế, thay vì luôn dựa trên phiên bản lý tưởng của bản thân.
Và nó cũng tạo ra một vòng lặp đáng chú ý: stress khiến trì hoãn dễ xuất hiện hơn, trong khi trì hoãn lại tạo thêm deadline, việc tồn đọng và cảm giác tội lỗi, từ đó làm stress tăng thêm.
Đôi khi vấn đề không phải bạn đột nhiên trở thành một người kém kỷ luật hơn. Bạn chỉ đang cố vận hành cùng một hệ thống trong một điều kiện đã thay đổi.
Vậy có thật là “càng quan trọng càng trì hoãn”?
Đến đây, câu trả lời chính xác nhất là: không hẳn.
Một việc có ý nghĩa và giá trị với bạn thường tạo thêm động lực để hành động. Nghiên cứu ở cấp độ từng nhiệm vụ thậm chí cho thấy những nhiệm vụ ít giá trị cá nhân hơn dễ bị trì hoãn hơn.
Nhưng một số việc quan trọng đồng thời mang theo những đặc điểm khác làm trì hoãn dễ xuất hiện hơn: thất bại có giá lớn hơn, kết quả gắn chặt hơn với cách bạn nhìn về bản thân, tiêu chuẩn cao hơn, nhiều bất định hơn, nhiệm vụ lớn và mơ hồ hơn, hoặc cảm xúc trong quá trình thực hiện khó chịu hơn.
Vì thế, câu:
“Mình trì hoãn việc này vì nó quá quan trọng”
có lẽ vẫn còn quá đơn giản.
Một câu hỏi tốt hơn là:
“Việc này trở nên khó bắt đầu theo cách nào vì nó quan trọng với mình?”
Bạn có sợ một kết quả xấu sẽ nói điều gì đó về năng lực của mình không?
Bạn có đang yêu cầu bản đầu tiên phải đạt tiêu chuẩn của sản phẩm cuối cùng không?
Bạn có biết chính xác hành động tiếp theo là gì không?
Bạn có đang dùng “chuẩn bị thêm” để trì hoãn thời điểm phải nhận phản hồi thật không?
Hay đơn giản là cuộc sống hiện tại của bạn đã quá tải đến mức nhiệm vụ này đòi hỏi nhiều nguồn lực hơn những gì bạn đang có?
Những câu hỏi này quan trọng bởi mỗi nguyên nhân cần một giải pháp khác nhau.
Nếu bạn đang trì hoãn một việc rất quan trọng, đừng làm nó quan trọng hơn nữa
Phản ứng rất phổ biến khi trì hoãn là tự tăng áp lực.
“Mình phải nghiêm túc lên.”
“Cơ hội này quan trọng lắm.”
“Nếu lần này cũng không làm thì mình chẳng bao giờ thay đổi được.”
Nhưng nếu thứ đang cản bạn chính là sức nặng tâm lý của nhiệm vụ, những lời nhắc đó giống như đặt thêm hành lý lên vai một người đang khó bước đi.
Thay vì tăng tầm quan trọng, hãy giảm chi phí của bước đầu tiên.
Nếu bạn sợ làm không tốt, hãy định nghĩa rõ bản nháp đầu tiên chỉ có nhiệm vụ tạo ra vật liệu để chỉnh sửa. Nếu mục tiêu quá lớn, hãy xác định hành động vật lý tiếp theo mà bạn có thể hoàn thành trong một phiên làm việc. Nếu bạn vẫn đang nghiên cứu mãi, hãy đặt một điểm mà sau đó bắt buộc phải chuyển từ thu thập thông tin sang tạo ra thứ gì đó. Nếu việc này đang gắn quá chặt với giá trị bản thân, hãy tập tách kết quả của một lần thử khỏi kết luận về năng lực của cả con người.
Ví dụ, thay vì “hôm nay phải bắt đầu cuốn sách”, bạn có thể quyết định “viết 500 từ về một ý mà chưa cần dùng được”. Thay vì “hoàn thiện portfolio để chuyển nghề”, hãy chọn ba dự án đầu tiên. Thay vì “bắt đầu tập luyện nghiêm túc”, hãy lên lịch cho buổi tập đầu tiên và chuẩn bị quần áo.
Mục tiêu cuối cùng vẫn có thể rất lớn.
Nhưng hành động hôm nay không cần mang toàn bộ trọng lượng của mục tiêu cuối cùng.
Đây có lẽ là distinction quan trọng nhất của bài viết này.
Hãy giữ điều quan trọng ở cấp độ mục tiêu, nhưng làm nó bình thường ở cấp độ hành động
Có một xu hướng rất tự nhiên khi chúng ta quyết định thay đổi điều gì đó lớn: biến từng hành động nhỏ thành một biểu tượng.
Buổi chạy ngày mai không chỉ là một buổi chạy. Nó trở thành bằng chứng rằng “từ hôm nay mình sẽ là người sống lành mạnh”.
Video đầu tiên không chỉ là một video. Nó trở thành phép thử xem mình có thể xây dựng sự nghiệp sáng tạo hay không.
Một ngày viết không chỉ là một ngày viết. Nó trở thành bài kiểm tra xem mình có đủ kỷ luật để hoàn thành cuốn sách hay không.
Khi đó, bỏ một buổi không chỉ là bỏ một buổi. Nó có cảm giác như một thất bại về con người.
Theo Flowable, đây là một cách thiết kế hành vi rất tốn năng lượng.
Một hệ thống tốt nên giữ ý nghĩa lớn ở tầng định hướng, nhưng khiến hành vi nhỏ ở tầng thực thi.
Bạn có thể muốn trở thành một nhà văn. Hôm nay bạn chỉ cần viết.
Bạn có thể muốn xây một doanh nghiệp có ý nghĩa. Hôm nay bạn chỉ cần gọi cho một khách hàng.
Bạn có thể muốn thay đổi sức khỏe trong mười năm tới. Hôm nay bạn chỉ cần hoàn thành buổi tập đã lên lịch.
Khi một việc quan trọng, chúng ta thường nghĩ rằng mình cần thêm quyết tâm để xứng đáng với nó. Nhưng khá nhiều lần, thứ hữu ích hơn lại là một hệ thống khiến nó bớt cần quyết tâm.
Đó cũng là tư duy Flowable sử dụng trong ebook Xây dựng thói quen cho người bận rộn. Thay vì đặt thay đổi hành vi lên vai động lực và ý chí, chúng mình tập trung vào cách biến mục tiêu thành hành động cụ thể, thiết kế môi trường, giảm ma sát và tạo một cấu trúc đủ thực tế để hành vi vẫn có thể xảy ra trong những ngày không hoàn hảo.
Bởi một điều có thể rất quan trọng với bạn mà mỗi lần thực hiện nó không cần phải cảm thấy trọng đại.
Đôi khi, đó chính là cách những điều quan trọng cuối cùng được làm.
Tìm hiểu ebook Habit Formation của Flowable tại đây.
By Flowable.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao việc càng quan trọng càng dễ bị trì hoãn?
Một việc quan trọng thường tạo động lực, nhưng đồng thời có thể khiến thất bại mang nhiều ý nghĩa về năng lực và giá trị bản thân. Nhiệm vụ cũng dễ trở nên mơ hồ, khó chịu hoặc gắn với tiêu chuẩn quá cao. Khi đó, trì hoãn giúp giảm cảm xúc tiêu cực ngay lập tức, dù làm tăng hậu quả về sau.
Cầu toàn liên quan thế nào đến việc trì hoãn?
Đặt tiêu chuẩn cao và nỗ lực đạt chúng không nhất thiết làm tăng trì hoãn. Những khía cạnh liên quan nhiều hơn là lo lắng về sai sót, liên tục nghi ngờ chất lượng công việc và cảm thấy mình không đáp ứng được kỳ vọng. Khi bản nháp đầu tiên bị yêu cầu phải hoàn hảo, tiêu chuẩn về chất lượng trở thành rào cản để bắt đầu.
Làm sao bắt đầu một mục tiêu quan trọng đang bị trì hoãn?
Hãy giảm chi phí của bước đầu tiên bằng cách chuyển mục tiêu lớn thành một hành động cụ thể, có thể hoàn thành trong một phiên làm việc. Có thể viết 500 từ chưa cần dùng được, chọn ba dự án đầu tiên cho portfolio hoặc chuẩn bị quần áo cho buổi tập. Mục tiêu cuối cùng vẫn lớn, nhưng hành động hôm nay không cần mang toàn bộ trọng lượng của nó.
Stress làm thay đổi khả năng bắt đầu công việc thế nào?
Stress kéo dài khiến con người phải dùng nhiều nguồn lực hơn để đối phó với cảm xúc và yêu cầu trong cuộc sống. Vì vậy, khả năng chịu đựng thêm một nhiệm vụ khó chịu có thể giảm xuống, khiến trì hoãn trở thành cách nhanh để thoát khỏi cảm xúc tiêu cực. Cùng một công việc vì thế có thể dễ làm ở thời điểm này nhưng rất khó bắt đầu ở thời điểm khác.
Tài liệu tham khảo
- Grunschel, C., Schwinger, M., Steinmayr, R., & Fries, S. (2021). Predicting delay in goal-directed action: An experience sampling approach uncovering within-person determinants involved in the onset of academic procrastination behavior. Frontiers in Psychology, 12.
- Sirois, F. M. (2023). Procrastination and stress: A conceptual review of why context matters. International Journal of Environmental Research and Public Health, 20(6), 5031.
- Sirois, F. M., Molnar, D. S., & Hirsch, J. K. (2017). A meta-analytic and conceptual update on the associations between procrastination and multidimensional perfectionism. European Journal of Personality, 31(2), 137–159.
- Steel, P. (2007). The nature of procrastination: A meta-analytic and theoretical review of quintessential self-regulatory failure. Psychological Bulletin, 133(1), 65–94.
- Svartdal, F., et al. (2020). How study environments foster academic procrastination: Overview and recommendations. Frontiers in Psychology, 11, 540910.
- Van Eerde, W. (2000). Procrastination: Self-regulation in initiating aversive goals. Applied Psychology, 49(3), 372–389.